1

Tin tức

trừu tượng

Ung thư tế bào hắc tố chỉ chiếm 4% tổng số các loại ung thư da nhưng lại là một trong những loại ung thư da gây tử vong cao nhất. Dacarbazine là loại thuốc được lựa chọn để điều trị ung thư hắc tố ở Brazil thông qua hệ thống y tế công cộng chủ yếu vì giá thành rẻ. Tuy nhiên, nó là một chất alkyl hóa có độ đặc hiệu thấp và chỉ gây ra đáp ứng điều trị trong 20% ​​trường hợp. Các loại thuốc khác hiện có để điều trị u ác tính rất đắt tiền và các tế bào khối u thường phát triển khả năng kháng lại các loại thuốc này. Cuộc chiến chống lại khối u ác tính đòi hỏi những loại thuốc mới, cụ thể hơn có hiệu quả trong việc tiêu diệt các tế bào khối u kháng thuốc. Các dẫn xuất dibenzoylmethane (1,3-diphenylpropane-1,3-dione) là những chất chống khối u đầy hứa hẹn. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã nghiên cứu tác dụng gây độc tế bào của 1,3-diphenyl-2-benzyl-1,3-propanedione (DPBP) trên tế bào u ác tính B16F10 cũng như tương tác trực tiếp của nó với phân tử DNA bằng nhíp quang học. DPBP cho kết quả đầy hứa hẹn chống lại các tế bào khối u và có chỉ số chọn lọc là 41,94. Ngoài ra, chúng tôi đã chứng minh khả năng của DPBP tương tác trực tiếp với phân tử DNA. Thực tế là DPBP có thể tương tác với DNA trong ống nghiệm cho phép chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng một tương tác như vậy cũng có thể xảy ra trong cơ thể sống và do đó, DPBP có thể là một giải pháp thay thế để điều trị bệnh nhân mắc các khối u ác tính kháng thuốc. Những phát hiện này có thể định hướng cho việc phát triển các loại thuốc mới và hiệu quả hơn.

Trừu tượng đồ họa

3

Biểu đồ phần trăm tế bào chết thu được đối với hợp chất DPBP chống lại dòng melan-A và B16F10 ở các nồng độ khác nhau. Các chỉ số chọn lọc (SI = IC50 melan-A / IC50 B16F10) là 41,94.                    

Được xuất bản bởi Elsevier BV

trừu tượng

Dibenzoylmethane (DBM) là một thành phần phụ của cam thảo và một chất tương tự β-diketone của curcumin. Cho chuột Sencar ăn 1% DBM trong chế độ ăn uống trong cả giai đoạn khởi đầu và sau khởi đầu ức chế mạnh mẽ 7,12-dimethylbenz [a] anthracene (DMBA) gây ra đa dạng khối u tuyến vú và tỷ lệ khối u tuyến vú là 97%. Trong các nghiên cứu in vivo sâu hơn để làm sáng tỏ các cơ chế có thể có của hoạt động ức chế DBM, cho chuột ăn 1% DBM trong chế độ ăn AIN-76A cho chuột Sencar chưa trưởng thành trong 4–5 tuần làm giảm 43% trọng lượng ướt tử cung, ức chế tỷ lệ tăng sinh tế bào biểu mô tuyến vú là 53%, biểu mô tử cung là 23%, và mô đệm tử cung là 77%, khi chuột bị giết trong giai đoạn động dục đầu tiên của chu kỳ động dục. Ngoài ra, cho chuột Sencar ăn 1% DBM trong chế độ ăn uống vào 2 tuần trước, trong và 1 tuần sau khi điều trị DMBA (đặt nội khí quản 1 mg DMBA cho mỗi con chuột mỗi tuần một lần trong 5 tuần) đã ức chế sự hình thành tổng cộng các sản phẩm DMBA – DNA ở động vật có vú 72% sử dụng xét nghiệm dán nhãn sau 32P. Do đó, cho chuột Sencar ăn chế độ ăn 1% DBM đã ức chế sự hình thành các sản phẩm bổ sung DMBA – DNA trong các tuyến vú và làm giảm tốc độ tăng sinh của tuyến vú in vivo. Những kết quả này có thể giải thích các hành động ức chế mạnh mẽ của DBM trong chế độ ăn uống đối với quá trình sinh ung thư tuyến vú ở chuột.


Thời gian đăng bài: 8-12-2020